Chủ Nhật, 24 tháng 4, 2016

Bùi Tín nên ngợi ca hay căm hận Bác Hồ?

Bùi Tín nên ngợi ca hay căm hận Bác Hồ?

 

(Có thật “phú quý giật lùi?”? Hay…??? )

 

Sáng nay, đọc bài báoMột thời đa nguyên, sao lại phú quý giật lùi?” của nhà báo Bùi Tín đăng trên Voa, ngày 15.03.2016. Mới chỉ đọc tiêu đề bài báo, ai cũng hiểu rằng tác giả muốn nói lên chế độ cộng sản Việt Nam hôm nay đang giật lùi so với chế độ cộng sản Việt Nam thời gian trước đó và “lạc hậu xa so với năm 1945 – 1946”! Nhưng khổ nỗi, tôi đã đọc được bài báo của Tiến sĩ Nguyễn Thị Từ Huy “Để đi đến sự thật, cần biết tự hoài nghi”. Hoài nghi điều gì ở đây?
Tôi hoài nghi rằng: Có thật “phú quý giật lùi?”?
Tôi hoài nghi rằng: Có thật vị Gs TS Nguyễn Phú Trọng đểu hơn Hồ Chí Minh? Có thật “Trong cuộc Cách mạng tháng Tám, khởi nghĩa và xây dựng chính quyền mới mang tính chất đa nguyên, đa đảng thật sự tuy chưa đầy đủ.”
Hay là: “Bên ngoài trát gấm thêu hoa, bên trong ghẻ lở kim la tám tầng”?
Kìa, ông Bùi Tín viết: “Tôi xin chứng minh rằng trải qua hơn 70 năm cầm quyền đảng CS đã liên tiếp lùi trên con đường dân chủ hóa đất nước; hậu quả là nước VN năm nay còn lạc hậu xa so với năm 1945 – 1946...” Và “Trong cuộc Cách mạng tháng Tám, khởi nghĩa và xây dựng chính quyền mới mang tính chất đa nguyên, đa đảng thật sự tuy chưa đầy đủ. Bên cạnh đảng CS còn có đảng Xã hội, đảng Dân chủ, dù chỉ là kiểu tổ chức ngoại vi của đảng CS nhưng nó vẫn mang sắc thái đa nguyên, có phản biện nghiêm chỉnh. Trong Quốc hội đầu tiên cuối năm 1946 đảng Dân chủ VN có 46 đại biểu; đảng Xã hội VN có 24 đại biểu...” Và “Cần chỉ rõ số 213 đại biểu Quốc hội ngoài đảng ấy đã đóng góp không nhỏ cho cuộc cách mạng mới ở thời trứng nước. Tiêu biểu là những nhân vật như ....

Các nhân vật ngoài đảng trên đây hoạt động thật sự trên các lĩnh vực và trách nhiệm của mình, cống hiến thật sự vào đại sự quốc gia, lôi cuốn hàng chục vạn, hàng triệu người ... Đó là hình ảnh tuyệt đẹp của chủ trương đa nguyên, quyết sách đa nguyên, đảng CS không thể riêng một mình làm hết mọi chuyện.”

Không hiểu từ bao giờ, Bùi Tín đã ngại dùng hai chữ “Bác Hồ”? Rõ ràng Bùi Tín khen chế độ “1945 – 1946”, nhưng suốt toàn bài Bùi Tín đã không dùng đến 2 chữ Bác Hồ hay Hồ Chí Minh. Nhưng dù không dùng đến 2 chữ Bác Hồ hay Hồ Chí Minh, nhưng độc giả ai cũng hiểu Bùi Tín đang khen Bác Hồ hay thời đại Hồ Chí Minh.

Rõ ràng, nếu nhìn như ông Bùi Tín, thì từ thời “Bác Hồ” đảng cộng sản Việt Nam đã có đa nguyên, và khá tiến bộ, rồi càng về sau thì các cán bộ lãnh đạo Cộng sản càng “hủ hóa”, chuyên quyền mà dẫn đến “chế độ nhất nguyên độc đảng ngự trị vững chắc”… Tóm lại là: Nguyễn Phú Trọng độc ác hơn nhiều lần Hồ Chí Minh! Kết luận này có thỏa đáng?

Nếu quả đúng như vậy, thì xấu lắm đảng cộng sản Việt Nam cũng chỉ là hiến tượng giống như các triều đại phong kiến: Trước tốt sau xấu rồi cuối cùng là mất đi để thay thế bằng một xã hội khác. Kết luận này có thỏa đáng?

Câu hỏi đặt ra là: Hồ đa nguyên thật hay giả?

Phải chăng đúng là: “Bề ngoài thơn thớt nói cười /Mà trong nham hiểm giết người không dao”?
Ta hãy bình tĩnh phân tích nhóm trí thức mà ông Bùi Tín viện dẫn: “Cần chỉ rõ số 213 đại biểu Quốc hội ngoài đảng ấy đã đóng góp không nhỏ cho cuộc cách mạng mới ở thời trứng nước. Tiêu biểu là những nhân vật như Hoàng Xuân Hãn, Hoàng Minh Giám, Phan Anh, Tạ Quang Bửu, Trần Đăng Khoa, Vũ Đình Hòe, Vũ Trọng Khánh, Dương Đức Hiền, Nguyễn Văn Huyên, Đặng Phúc Thông, Hoàng Đạo Thúy, Đỗ Đình Đạo, Trịnh Văn Bính, Lê Tư Lành, Hoàng Minh Chính, Hoàng Tích Trí, Đỗ Đức Dục, Nguyễn Lân, Nguyễn Văn Tố, Ngô Tử Hạ, Huỳnh Thúc Kháng, Phạm Bá Trực, Phan Kế Toại, Đặng Văn Hướng, Vi Văn Định, …Lê Hữu Từ, các Bác sỹ Tôn Thất Tùng, Trần Duy Hưng, Trần Hữu Tước....”
Nhóm Bùi Tín dẫn ra ở trên có tất cả 29 người!
29 người đó thế nào?
Nhóm những người chết sớm và bí ẩn: Nhóm này có 8/29 người, gồm: “ Dương Đức Hiền, Đặng Phúc Thông, Đỗ Đình Đạo, Hoàng Tích Trí, Nguyễn Văn Tố, Huỳnh Thúc Kháng, Phạm Bá Trực, Đặng Văn Hướng.”
8/29 người chết sớm và đầy bí ẩn (chiếm 27,6 %) - Đây là một tỷ lệ không hề nhỏ!
Sự thật, những cái chết của họ ra sao? (Tôi sẽ phân tích kỹ hơn ở bài sau)
Nếu chúng ta để ý một chút sẽ thấy: Những người cộng sản Hồ Chí Minh – không có hiện tượng này! (Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Lương Bằng, Trường Trinh, Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Tôn Đức Thắng, Hoàng Văn Thái, Phạm Hùng, Nguyễn Văn Linh, Võ Văn Kiệt… không ai chết sớm)

Còn lại 21 người sống thọ, thì họ được chia ra như sau:
3 người chạy thoát thân, trong đó có 2 người chay ra nước ngoài và 1 người chạy vào miền Nam là Hoàng Xuân HãnNgô Tử Hạ, và Lê Hữu Từ - Trong đó lý do chạy ra nước ngoài của cụ Ngô Tử Hạ rất khiên cưỡng và được nói là đến 1954 thì lại theo phái đoàn của Phạm Văn Đồng về nước với nhiều tình tiết bí hiểm, khả nghi. (Tôi sẽ phân tích kỹ hơn ở bài sau),
Còn lại 18 người sống tương đối thọ ở trong nước, gồm: “Hoàng Minh Giám, Phan Anh, Tạ Quang Bửu, Trần Đăng Khoa, Vũ Đình Hòe, Vũ Trọng Khánh, Nguyễn Văn Huyên, Hoàng Đạo Thúy, Trịnh Văn Bính, Lê Tư Lành, Hoàng Minh Chính, Đỗ Đức Dục, Nguyễn Lân, Phan Kế Toại, Vi Văn Định, …, các Bác sỹ Tôn Thất Tùng, Trần Duy Hưng, Trần Hữu Tước....”
Trong 18 người sống thọ này có nhóm 4 người, cán bộ cấp cao của Hồ Chí Minh (3 bộ trưởng và 1 người sĩ quan cao cấp): “Hoàng Minh Giám, Phan Anh, Tạ Quang Bửu, Hoàng Đạo Thúy”. Đặc biệt 2 ông “Phan Anh, Tạ Quang Bửu” là 2 người đứng đầu ở Trường Thanh niên tiền tuyếnđược lập nên bởi Phát xít Nhật! Vậy mà 2 ông “Phan Anh, Tạ Quang Bửu” là 2 người bị Việt Minh của Hồ bắt giữ, 2 tù binh đó chỉ sau vài tháng đã thành Bộ Trưởng và thứ trưởng bộ Quốc Phòng của Hồ! Hồ dám mạo hiểm thế sao? Hồ có tài cảm hóa thế sao? Rồi ông Hoàng Đạo Thúy - thủ lĩnh Phong trào Hướng đạo Việt Nam. Được Hồ yêu mến đến thế sao? Kìa “Sau khi Hiệp định Genève được ký kết tháng 7 năm 1954, phân chia lãnh thổ Việt Nam ra làm hai phần. Miền Bắc trở thành một quốc gia cộng sản và phong trào Hướng đạo dần dần giải tán và không được phép hoạt động[1].” Vậy đó, cách dùng người của Hồ nó hoàn toàn như một câu đối hoàn chỉnh vậy! Nếu chỉ nhìn nhận đơn thuần, một chiều hoặc ngược lại là tức giận, chửi bới thì không thể nào phát hiện ra!
Vì sao người thân của nhóm 4 người này có số phận rất bi đát (trừ một số trẻ nhỏ) và đặc biệt ảnh của họ không giống người thân của họ! Phải chăng họ đã bị giết cả nhà? (Cả những người có tên là 4 người trên rồi ai đó nhảy vào nhà họ lấy tên họ để trưng diện? - Tôi sẽ phân tích kỹ hơn ở bài sau.) Xin trích ra đây những tấm ảnh “Cha – Con” để chúng ta cùng suy ngẫm: Liệu họ có phải là “Cha – Con”?
(4 ảnh – 2 cặp “Cha – Con”)

Trong 18 người sống thọ này có nhân vật Vi Văn Định? Vi Văn Định là ai? Là Tổng Đốc Thái Bình – nhân vật đã bị nhà văn Phan Khôi nhiếc móc qua bài: “Sự dùng người của chánh phủ” và “Chân dung một địa chủ gian ác”, Với cộng sản thì trong thời gian Vi Văn Định nhậm chức ở Thái Bình “Năm 1929, ông được thăng Tổng đốc tỉnh Thái Bình (1929-1937)” Ông ta đã ghi điểm với Cộng sản tỉnh này với vụ án “Cộng sản ở Thái Bình” với thành tích: “tháng 9/1930, tòa án Thái Bình xử vụ "Cộng sản ở Thái Bình", khoảng 160 người. … Tám người bị án nặng, đưa giam ở Côn Đảo. …” Vậy mà đến thời Hồ Chí Minh thì Vi Văn Định lại là một nhân sĩ yêu nước, cha vợ của 3 nhà trí thức Nguyễn Văn Huyên, Hồ Đắc Di, Tôn Thất Tùng ( Ẩn số nào ở đây? Chúng ta sẽ không thể biết nếu không biết rằng người đi đón Vi Văn Định về là Nguyễn Văn Ngọ (Ba Ngọ) đã bị chết ngay sau đó tại… Bắc Kinh!- Tôi sẽ phân tích kỹ hơn ở bài sau)

Một nhóm 4 người Trí Thức nữa cũng chết trong giai đoạn này mà không được Bùi Tín nhắc tới đó là Cụ Bùi Bằng Đoàn (Cha của Bùi Tín) và vợ của ông (Mẹ Bùi Tín) và 2 anh trai của cụ Bùi Bằng Đoàn, câu chuyện như sau:

Tại Cổng thông tin điện tử Ban liên lạc Họ Bùi Việt Nam có ghi rằng: Người con thứ hai là Bùi Tập (1849 - 1895), được tập ấm, làm quan đến Tuần phủ tỉnh Hưng Hóa, hàm Thị lang, sinh được 3 người con trai làm rạng danh họ Bùi:
Con cả là Bùi Bằng Phấn (1882 - 1949):...con thứ là Bùi Bằng Thuận (1883 - 1947):...Con thứ ba là Bùi Bằng Đoàn (1889 - 1955): ...
Cái chết của 3 anh em có gì đặc biệt cần lưu ý? Nếu tính về tuổi thọ thì không có gì đặc biệt bởi thời đó sống ngoài 60 kể đã là già. Nhưng đặc biệt là ở chỗ chỉ 2 năm 1947 – 1949 cả 3 anh em đã gần như đồng loạt chết! (Bùi Bằng Đoàn thì 1947 bị liệt nửa người rồi chết vào năm 1955), vợ ông cũng chết bí hiểm năm 1947 – như vậy, một nhà 4 người trí thức đã chết cùng thời điểm !
Nếu chỉ nhìn một cái chết của Bùi Bằng Đoàn thì sẽ khó phát hiện ra, nhưng nếu nhìn thêm cụ Nguyễn Văn Tố, Huỳnh Thúc Kháng, Phạm Bá Trực ...cùng chết vào thời điểm đó thì sẽ thấy câu chuyện là có vấn đề. Nếu chỉ nhìn một cái chết của  Bùi Bằng Đoàn thì sẽ khó phát hiện ra, nhưng nếu nhìn thêm cái chết của 2 người anh cùng người vợ của ông ở thời điểm đó thì sẽ thấy câu chuyện là có vấn đề.
Những cái chết bí hiểm ở trên, cho ta nhìn nhận: “Cuộc đánh tráo có thể có” chứ không như Bùi Tín viết: “Cuộc đánh tráo không thể có” (Đăng trên Voa ngày 04.04.2014 ) (Tôi sẽ trở lại vấn đề này sau).
Câu chuyện là vậy chứ không như Bùi Tín viết trong bài: Dù việc đánh tráo có hay không… (Đăng trên Voa ngày 16.04.2014 ) “Theo tôi việc chưa đạt được đồng thuận thật cao là trong lăng Hồ Chí Minh hiện tại là người Việt hay người Tàu, là Hồ Chí Minh hay Hồ Tập Chương, không ảnh hưởng gì đến việc đánh giá nhân vật lịch sử này …” Thưa ông Bùi Tín, nếu đúng: Hồ Chí Minh là người Việt thì những cái chết ở trên còn có % nào đó là ngẫu nhiên, còn có % nào đó không phải do Hồ gây nên, nhưng: Thưa ông Bùi Tín, nếu đúng: Hồ Chí Minh là người Tàu thì những cái chết ở trên (và còn rất nhiều nữa) đích thị 100% là do bọn quỷ dàn dựng để che mình! (Người Tàu có dám ở cùng những Trí Thức Việt Nam?)
Câu chuyện như vậy có “ảnh hưởng ” không thưa ông Bùi Tín?

Vậy đó, có thật “phú quý giật lùi?”? Hay…??? Mong ông Bùi Tín trả lời!

Câu chuyện như vậy, Bùi Tín nên ngợi ca hay căm hận Bác Hồ?

                                                  Bùi Tất Thành – Viết từ Hà Nội.

HẠ TRUNG QUỐC

HẠ TRUNG QUỐC

Nguyễn  Tấn Nhật

LỊCH SỬ CHỐNG TRUNG QUỐC XÂM LƯỢC CỦA NƯỚC TA
ĐÔI ĐIỀU CẢM NHẬN
Trong bài viết “Kính tặng nhà sử học Dương Trung Quốc và Hội Khoa học Lịch sử XHCN Việt Nam” tác giả Trận thị Hải Ý nhấn mạnh tiêu đề: “Thà chịu chết còn hơn viết sai sự thật”.
Tiếc là nước ta không có được các nhà sử học cần thiết. Bảy mươi năm dưới triều đại Hồ Chí Minh cộng sản (sau đây gọi là nhà Sản) lịch sử nước ta đã bị nô dịch và bóp méo nhiều. Là con dân Việt Nam, Hạ Trung Quốc tôi cũng có vài cảm nhận muốn chia sẻ cùng quý vị và các bạn xin mạnh dạn trình bày.
Phần thứ nhất: Lịch sử chống Trung Quốc nước ta qua các thời kỳ:
THỜI AN DƯƠNG VƯƠNG: 208-179 trước Công nguyên
Năm 221 trước Công nguyên (TCN) Tần Thủy Hoàng thống nhất được Trung Quốc, năm 218 TCN chúng đã xua 50 vạn quân tràn xuống nước ta, bắt đầu thời kỳ lịch sử hơn hai ngàn năm chống Trung Quốc xâm lược của nước ta.
Sau 10 năm kháng chiến gian khổ, năm 208 TCN quân Tần đã phải rút về nước, nhân dân ta lập ra nước Âu Lạc dưới triều đại An Dương Vương. Trong vòng 30 năm vừa xây dựng vừa chiến đấu chống quân Trung Quốc (nhà Triệu) xâm lược, nhân dân ta đã viết nên trang sử rạng rỡ của dân tộc.
Năm 179 TCN An Dương Vương đã thất bại trước Triệu Đà, nước ta bị nhà Triệu đô hộ. Năm 111 nhà Tây Hán diệt nhà Triệu, nước ta lại bị đô hộ của nhà Tây Hán.
THỜI TRƯNG NỮ VƯƠNG: NĂM 40-43 Công nguyên
Đầu thế kỷ 1 sau Công nguyên nhà Tây Hán sụp đổ, nhà Đông Hán thay thế. Năm 39 cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng thắng lợi, lập ra triều đại Trưng Nữ Vương kéo dài  đến năm 43. Sau nhiều cuộc chiến đẫm máu, quân Trung Quốc – nhà Đông Hán lại tiếp tục đô hộ nước ta.
THỜI TIỀN LÝ: NĂM 544-602
Dưới ách đô hộ của quân Trung Quốc xâm lược qua các triều đại: Triệu Đà, Tây Hán, Vương Mãn, Đông Hán, Tam Quốc, Tây Tấn, Đông Tấn, Nam Bắc Triều kéo dài suốt 700 năm, các cuộc khởi nghĩa chống quân Trung Quốc xâm lược của nhân dân ta vô cùng anh dung nhưng đều thất bại, như trong các năm: 100, 137, 144, 157, 178, 184, 190, 246, 263, 271, 468)
Năm 542, khởi nghĩa Lý Bôn giành thắng lợi, nước ta được độc lập dưới cờ Lý Nam Đế và nhà nước Vạn Xuân duy trì được 60 năm.
Năm 601, vua nhà Tùy là Dương Kiên đem quân sang đánh nước ta, nhà tiền Lý thất bại, nước ta lại bị Trung Quốc xâm lược đô hộ hơn 300 năm nữa.
Dưới triều đại nhà Đường, nhân dân ta đã nhiều lần vùng lên và có những phong trào giành thắng lợi, giữ độc lập trong thời gian ngắn như Lý Tự Tiên vào năm 687.
Mai Thúc Loan năm 722 xưng hiệu Mai Hắc Đế, Phùng Hưng hiệu Bố Cái Đại Vương năm 782-789, Dương Thanh năm 819.
THỜI BUỔI BAN ĐẦU XÂY NỀN ĐỘC LẬP: NĂM  905-1009
Năm 905 sau Công nguyên, Khúc Thừa Dụ đánh đuổi quân Trung Quốc – nhà Đường xâm lược nước ta, mở đầu công cuộc xây dựng nền độc lập lâu dài bền vững cho nước nhà.
Năm 930, quân Trung Quốc – nhà Nam Hán kéo quân xâm chiếm nước ta, tướng nước ta là Dương Diên Nghệ đánh thắng quân Trung Quốc, giữ được độc lập đến 937.
Năm 938, lại quân Trung Quốc-nhà Nam Hán tiếp tục kéo sang tấn công nước ta, Ngô Quyền lãnh đạo quân dân ta tiêu diệt quân Nam Hán lập ra triều vua Ngô,  chọn kinh đô là Cổ Loa (Hà Nội). Triều Ngô tồn tại đến năm 965 thì xảy ra loạn 12 sứ quân, đến năm 967 Đinh Tiên Hoàng dẹp loạn 12 sứ quân, ổn định đất nước đến năm 980 nhà Đinh chuyển ngôi sang nhà Lê.
Đại hành Hoàng đế Lê Hoàn thay sứ mạng vua Đinh, chỉ huy quân nhân đánh tan quân Trung Quốc xâm lược nhà Tống, dừng triều tiền Lê đến năm 1009 ngôi vua chuyển về nhà Lý.
THỜI NHÀ LÝ: NĂM 1009-1225
Nhà Lý thay thế nhà tiền Lê, giữ ngôi vua củng cố nền độc lập của đất nước về mọi mặt kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao, văn hóa, tôn giạo …
Nhà Lý hai lần đánh bại quân Trung Quốc – nhà Tống xâm lược vào năm 1075-1076 trên đất Trung Quốc và năm 1076 – 1077 trên đất Đại Việt ta.
THỜI NHÀ TRẦN: NĂM 1225-1400
Năm 1225 khi nhà Lý đã suy vong, nhà Trần thay thế nhà Lý, củng cố đất nước lên một trình độ phát triển mới.
Dưới thời nhà Trần, đất nước ta lại phải tiếp tục đối mặt với bọn Trung Quốc – Nguyên Mông xâm lược, là thế lực hung hãn nhất bấy giờ. Hơn thế nữa chúng còn quyết tâm phải chiếm bằng được nước ta.
Quân dân ta dưới thời Trần đã ba lần đánh cho chúng đại bại, giữ vững nền độc lập của dân tộc:
“ Thái bình tu nỗ lực
Vạn cổ thử gian san”
THỜI NHÀ HỒ: 1400-1407
Năm 1400 nhà Hồ cướp ngôi nhà Trần. Nhà Hồ ra sức sửa sang chính sự, đặc biệt xây dựng lực lượng quân đội. Được một thời gian ngắn, đến năm 1407 quân Trung Quốc-nhà Minh sang đánh chiếm nước ta, vua tôi nhà Hồ đã nhanh chóng thất bại. Quân Trung Quốc – nhà Minh ra sức áp đặt chế độ cai trị hà khắc lên nước ta. Các lực lượng kháng chiến nước ta với các phong trào Trùng Quang đế, Giản Định đế liên tục trong 20 năm chiến đấu và kết thúc thắng lợi với cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, dựng nên nhà Lê và cho đến tận 1945 chúng hoàn toàn không thực hiện được âm mưu ngàn đời là xâm chiếm  nước ta, nô dịch nhân dân ta.
THỜI LÊ SƠ: NĂM 1427 – 1527
Các vua đầu nhà Lê tiếp tục củng cố nền độc lập đưa đất nước đến hưng thịnh. Thời vua Lê Thánh Tông năm 1460-1497 đất nước ta phát triển rực rỡ về nhiều mặt.
Vua thì “Trống điểm canh còn đọc sách. Trăng gác núi chưa thôi chầu”
Dân thì “Đời vua Thái tổ Thánh tông, lúa chất đầy đồng trâu chẳng buồn ăn”
Sau thất bại của cuộc xâm lược năm 1407-1427 quân Trung Quốc – nhà Minh không dám nhòm ngó nước ta thêm một lần nào nữa (nhà Minh cai trị Trung Quốc từ năm 1368-1644).
TRIỀU NHÀ MẠC: NĂM 1527-1592
Năm 1527 Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê, làm vua 3 năm, truyền ngôi cho con (năm 1530) để làm Thái Thượng hoàng, truyền ngôi đến năm 1592 được 6 đời thì bị nhà Trịnh diệt. Chính sách của nhà Mạc là hết sức thần phục Trung Quốc.
Năm 1540, Thái Thượng hoàng Mạc Đăng Dung đã dẫn đầu một đoàn thuộc hạ, cởi trần, tự lấy áo trói mình, quỳ gối trước hai sứ thần nhà Minh và Mao Bá Ôn và Cừu Loan, dâng nộp sổ sách, dâng đất đai gồm 4 động và 2 châu vùng biên giới Đông Bắc cho nhà Minh-Trung Quốc xâm chiếm. Về đối nội, nhà Mạc dốc sức đàn áp các thế lực chống đối trong nước. Từ năm 1583-1592 nhà Trịnh 7 lần tấn công nhà Mạc. Cuộc chiến này gây vô vàn cảnh tang thương chết chóc “tàn phá mùa màng gây ra hàng loạt trận chết đói các năm 1557, 1559, 1570, 1571, 1572, 1577 ... Trong lúc đó tệ nạn tham nhũng hạch sách nhân dân của bọn quan nha ngày càng gia tang.” (Đại cương Lịch sử Việt Nam).
Nhà Mạc còn tiến cống cho quân Trung Quốc-nhà Minh 1 ngàn cân (10.000 lạng) vàng.
TRIỀU LÊ TRỊNH: NĂM 1533 – 1788
Năm 1533 các cựu thần nhà Lê dựng lại vua Lê (tức Lê Trung Hưng) chiếm cứ vùng đất từ Thanh Hóa vào nam. Từ năm 1545 quyền chính thuộc về nhà Trịnh, vua Lê chỉ còn tính biểu tượng.
Năm 1592 chúa Trịnh diệt nhà Mạc, chiếm cứ kinh đô Thăng Long. Họ Mạc dựa vào nhà Minh – Trung Quốc cát cứ đất Cao Bằng đến năm 1677 thì bị nhà Trịnh tiêu diệt hoàn toàn.
Nhà Trịnh lại tiến hành chiến tranh với nhà Nguyễn cát cứ vùng Thuận Hóa – Quảng Nam, gây ra cuộc chiến tranh Nam Bắc kéo dài đến cuối thế kỷ thứ 18.
TRIỀU ĐẠI QUANG TRUNG: NĂM 1788-1802
Nhà Thanh cai trị Trung Quốc từ 1644-1911. Năm 1788 nhà Thanh đem 30 vạn quân kéo sang đánh nước ta, đã bị vua Quang Trung đánh cho tan tác trong một thời gian rất ngắn. Việc  này chứng tỏ ý chí và tiềm lực độc lập của dân tộc ta rất mạnh mẽ. Nhà Thanh-Trung Quốc lúc đó đang ở thời kỳ cực thịnh dưới triều vua Càn Long, còn nước ta đang trong thời kỳ Lê mạt, nội bộ đã trải qua 250 năm chiến tranh ly tán nhưng khi giặc đến tất cả đều đồng lòng dốc sức tiêu diệt quân xâm lược.
Triều đại Quang Trung chỉ tồn tại hơn 10 năm.
TRIỀU ĐẠI NHÀ NGUYỄN: NĂM 1802-1945
Triều Nguyễn thống nhất cả nước, tồn tại từ năm 1802-1883 qua 4 đời vua, trong đó trải qua 30 năm từ 1847-1883 chiến tranh với đế quốc Pháp. Từ năm 1883-1945 là thuộc địa Pháp với những ông vua bù nhìn.
Triều đại nhà Nguyễn không có nhiều vai trò trong lịch sử nước ta.
TRIỀU ĐẠI VIỆT NAM CỘNG HÒA: NĂM 1954-1975
Năm 1954 Hiệp định quốc tế Geneva về Đông Dương chia nước ta tạm thời làm 2 miền, miền Nam thuộc chính quyền Việt Nam Cộng Hòa. Trong 21 năm tồn tại, từ năm 1954-1975 chính quyền và nhân dân miền Nam đã phải trải qua chiến tranh liên miên. Đặc biệt trong đó là cuộc chiến chống lại nhà Sản  (miền Bắc Việt Nam theo Cộng sản) xâm lược. Đây là cuộc chiến tranh thảm khốc nhất, cay đắng nhất trong toàn bộ lịch sử nước ta. Triều đại Việt Nam Cộng hòa đã không thể hiện được nhiều và đã thất bại trong trong cuộc chiến chống quân Sản xâm lược.
Năm 1973, Hiệp định Paris buộc Mỹ phải rút khỏi cuộc chiến tại Việt Nam. Quân Trung Quốc cộng sản đem quân đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa – lúc này thuộc quyền quản trị của Việt Nam Cộng Hòa theo Hiệp định Geneva. Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đã cố gắng hết sức chiến đấu giữ gìn biển đảo nhưng đã thua. Cuộc chiến bảo vệ lãnh thổ quốc gia đã để lại nhiều tổn thất và không hoàn thành mục tiêu nhưng đã để lại dấu ấn vô cùng sâu đậm trong lòng người Việt Nam yêu nước.
TRIỀU ĐẠI NHÀ SẢN-HỒ CHÍ MINH CỘNG SẢN: NĂM 1945-2016
Năm 1940, Hồ Chí Minh (có thể là người Trung Quốc) được Võ Nguyên Giáp và Phạm Văn Đồng (lúc đó 2 ông này chưa công khai tham gia đảng Cộng sản) sang tận Liễu Châu – Trung Quốc rước về ở tạm hang Pắc Pó – là nơi giáp biên giới giữa Trung Quốc và Việt Nam.
Năm 1945 nhân danh Việt Minh, ông Hồ Chí Minh cùng đồng đảng cướp chính quyền ở Hà Nội, sau đó bằng các “biện pháp nghiệp vụ” lừa mị đã lôi kéo được các tổ chức ở Huế, Sài Gòn.
Đồng thời chính quyền Trung Quốc Tưởng Giới Thạch cũng nhân danh quân Đồng minh (sau Thế chiến II) kéo vào miền Bắc nước ta với 20 vạn quân, nêu sách lược: “Diệt cộng (sản) cầm Hồ (Chí Minh)”. Như vậy, theo quân Tưởng, cộng sản bắc Việt và Hồ Chí Minh và 2 thế lực khác nhau).
Đối sách của chính quyền Hồ Chí Minh là dựa vào quân Tưởng để loại bỏ các thế lực đối trọng. Cụ thể Hồ Chí Minh đã dùng vàng (kêu gọi đóng góp của dân chúng) để mua chuộc tướng lĩnh quân Tưởng: Dâng biếu cho tướng Hà Ứng Khâm 5000 (năm ngàn) lạng, dâng biếu cho tướng Lư Hán 3000 (ba ngàn) lạng, dâng biếu cho tướng Tiêu Văn 1500 (một ngàn năm trăm) lạng (theo chính sử cộng sản công khai và lời kể bà Trịnh Văn Bô-đại gia đã góp 5147 (năm ngàn một trăm bốn mươi bảy) lạng vàng cho vụ này).
Ngoài số tiền đút lót trực tiếp cho các cá nhân kể trên, ông Hồ Chí Minh còn bắt toàn quân, toàn dân phải thắt lưng buộc bụng để cung phụng cho đội quân 20 vạn tên của Tưởng. Thậm chí khi xảy ra va chạm, ông Hồ đã thực hiện chính sách “hy sinh” cả đồng đội để nộp cho quân Tưởng xử tử.
Hồ Chí Minh còn trơ tráo chỉ thị cho thuộc cấp “Phải học tập  Câu Tiễn trong lúc này” (Hồi ký Võ Nguyên Giáp – Những năm tháng không thể nào quên). Sử Tàu đại ý: Câu Tiễn chiến tranh với Phù Sai. Câu Tiễn thua bị Phù Sai bắt. Nhân dịp Phù Sai bị ốm, Câu Tiễn giả vờ biết cách chữa, bốc phân của Phù Sai cho vào miệng nếm để đoán bệnh, nhờ đó khiến Phù Sai tin là Câu Tiễn đã quy phục. Câu Tiến được thả về nước, sau đó đánh Phù Sai phục thù và giành chiến thắng.
Năm 1949 cộng sản Trung Quốc  nắm chính quyền đại lục. Chính quyền Trung Quốc đã chi viện rất nhiều cho nhà Sản Việt Nam để “đánh thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ” lập nên triều đại nhà Sản tại Việt Nam cho đến giờ.
Cũng từ đó Trung cộng đã khống chế nhà Sản Việt Nam, bắt theo chúng thực hiện nhiều chính sách vô lý, vô nhân, phản khoa học của chúng, gây cho Việt Nam rất nhiều thiệt hại đến lụn bại quốc gia.
Trung cộng đã nhiều lần đem quân xâm lược nước ta:
Tháng 1 năm 1974, Trung cộng đánh chiếm Hoàng Sa (lúc này thuộc quyền quản trị của miền Nam Việt Nam Cộng hòa), giết chết 74 binh sĩ Việt Nam Cộng hòa - những người đã anh dũng để bảo vệ tổ quốc tới hơi thở cuối cùng.
Tháng 2 năm 1979, Trung cộng thình lình đem 60 vạn quân đánh vào toàn tuyến biên giới phía bắc Việt Nam, giết chết và tàn sát hàng vạn chiến sỹ và đồng bào ta trong đó có rất nhiều trẻ em, phụ nữ và người già.
Tháng 7 năm 1984, Trung cộng đem 6 quân đoàn tấn công hành lang biên giới Vị Xuyên tỉnh Hà Giang, giết chết bằng những cách vô cùng dã man, đê hèn 3700 (ba ngàn bảy trăm) người gồm thương binh, tù binh, hàng binh Việt Nam. Trung cộng chiếm toàn bộ dải đất từ núi Bạc đến núi Đất dài 20km, rộng 5km, nay chúng đổi tên thành Lão Sơn.
Tháng 3 năm 1988, Trung cộng đánh chiếm Trường Sa, giết chết 64 chiến sĩ Việt Nam trên đảo Gạc Ma. Những chiến sĩ này đã không hề được cấp trên ra lệnh chiến đấu chống trả lại lực lượng xâm lược.
Năm 1995 Trung cộng tiếp tục đánh chiếm Trường Sa, chiếm thêm 7 đảo và các dải đá ngầm.
Tháng 5 năm 2014, Trung cộng đem giàn khoan khổng lồ 981 cắm sâu khoan thăm dò trên vùng biển chủ quyền của Việt Nam, nhằm vừa khai thác vừa uy hiếp đảng cộng sản và nhà nước cộng sản Việt Nam.
Tháng 11 năm 2015, đảng trưởng Cộng sản Trung Quốc Tập Cận Bình sang nước ta thị sát tình hình chuẩn bị chia chác quyền lực cho Đại hội 12 của đảng Cộng sản Việt Nam, uy hiếp đảng cộng sản và chính quyền cộng sản Việt Nam, lập nền cho tuyên bố phi pháp trắng trợn về chủ quyền biển đảo của chúng trên vùng biển đảo của ta ngay sau khi hắn rời Hà Nội ngày 8.11.2015
Chính sách của nhà Sản Việt Nam đối với Trung cộng là “Vừa hợp tác vừa đấu tranh”, tức là vừa dựa vào Trung cộng để đối phó với “các thế lực thù địch”, vừa ngoan ngoãn thuần phục Trung cộng để chúng dễ dàng từng bước đánh chiếm, xâm lấn dần mòn lãnh thổ và chủ quyền của Việt Nam.
PHẦN HAI: ĐÔI ĐIỀU CẢM NHẬN
Lịch sử chống Trung Quốc xâm lược của nước ta, từ thời Tần Thủy Hoàng (221-209 TCN) đánh nước ta năm 218 TCN đến khi tên bạo chúa độc tài cộng sản Tập Cận Bình lấy danh nghĩa đến thăm, thực chất là sang thị sát, điều chỉnh, uy hiếp khống chế đảng cộng sản Việt Nam (tháng 11.2015) là một quá trình dài 2233 (hai ngàn hai trăm ba muoi ba) năm:
Nhà nước Trung Quốc đã trải qua các triều đại:
Tần: năm 221-209 TCN
Triệu (Đà): năm 206-111 TCN (Nhà Triệu chỉ chiếm giữ phía Nam Trung Quốc, tồn tại đồng thời 90 năm với nhà Hán).
Tây Hán: năm 206 TCN-8CN (Vương Mãn cướp ngôi từ năm 8-23 CN)
Đông Hán: năm 25-220
Tam quốc: năm 220-280
Tây Tấn: năm 265-316
Đông Tấn: năm 317-420
Nam Bắc triều: năm 420-581
Tùy: năm 581-618
Đường: năm 618-907
Ngũ đại Thập quốc: năm 907-960
Tống: năm 960-1271
Nguyên: năm 1271-1368
Minh: năm 1368-1644
Thanh: năm 1644-1911
Trung Quốc Quốc dân đảng: năm 1911-1949
Trung Quốc độc tài Cộng sản: năm 1949-2016
Phía Việt Nam ta cũng trải qua các triều đại:
An Dương Vương: năm 208-179 TCN
Trưng Nữ Vương: năm 40-43
Triệu Việt Vương: năm 548-571
Tiền Lý-Lý Nam Đế: năm 542-601
Khúc Thừa Dụ-Khúc Hạo-Khúc Thừa Mỹ: năm 905-930
Dương Diên Nghệ: năm 930-937
Ngô Vương Quyền: năm 938-965
Đinh Tiên Hoàng: năm 968-980
Tiền Lê: năm 980-1009
Hậu Lý: năm 1009-1225
Nhà Trần: năm 1225-1400
Nhà Hồ: năm 1400-1407
Trùng Quang Đế: năm 1407-1409
Giản Định Đế: năm 1409-1414
Hậu Lê (Lê Sơ): năm 1427-1527
Lê Trung hưng (Lê Trịnh): 1533-1788
Nhà Mạc: năm 1527-1592
Quang Trung Tây Sơn: năm 1788-1802
Nhà Nguyễn: năm 1802-1883
Thuộc địa của Pháp: năm 1883-1945
Nhà Sản: năm 1945-2016
Từ năm 218 TCN đến 2016 tổng chiều dài 2233 năm lịch sử, Trung Quốc trải qua 17 triều đại (mà) không có triều đại nào là không đem quân xâm lược nước ta. Chúng đã đánh chiếm nước ta 31 lần, đô hộ nước ta trong 1087 năm dưới các triều đại phong kiến của Trung Quốc. Nhưng dưới triều đại Cộng sản của Trung Quốc,  trong thời gian ngắn nhất chúng đã đánh Việt Nam nhiều nhất (7 lần), cướp đoạt của nước ta nhiều lãnh thổ, biển đảo và tài nguyên nhất và khống chế nhà Sản Việt Nam mọi mặt đến độ các chính sách đường lối của nhà Sản Việt Nam đều theo chỉ đạo của Trung cộn, để lại nhiều hậu quả, hệ lụy rất nặng nề.
Đối mặt với quân Trung Quốc xâm lược, nước ta đã trải qua 21 triều đại kể cả thời Pháp đô hộ, chỉ có triều đại nhà Đinh, nhà Mạc, nhà Lê-Trịnh, nhà  Nguyễn là không phải chiến tranh chống lại Trung Quốc xâm lược.
Có hai triều đại chọn giải pháp nhẫn nhục để tránh đối đầu với quân Trung Quốc xâm lược, là nhà Mạc và nhà Sản.
Về tinh thần chịu nhẫn nhục mà nói thì triều đại Hồ Chí Minh nhà Sản “vĩ đại” hơn so với nhà Mạc: kêu gọi học tập tấm gương Câu Tiễn nếm phân đối thủ - rõ là “vĩ đại” hơn nhiều so với quỳ lạy cởi áo tự trói xin tha!
May là sự sẵn sàng đáng ghê tởm ấy của ông Hồ Chí Minh chưa phải thành hành động thực tiễn. Cũng rất giống nhau giữa nhà Mạc và nhà Sản: đều dâng cho giặc Tàu rất nhiều vàng, nhà Mạc là 10.000 (mười ngàn) lạng, nhà Sản 9500 (chin ngàn năm trăm) lạng, bớt được 500 lạng.
Nhà Mạc và nhà Sản đều phải cắt đất đai lãnh thổ dâng cho quân Trung Quốc xâm lược: nhà Mạc mất 4 động 2 châu vùng biên ải, nhà Sản mất 60.000 (sáu vạn) ha đất liền và 40.000 (bốn vạn) km2 biển đảo nằm sâu khắp mọi vùng miền lãnh thổ Việt Nam.
Nhà Sản và nhà Mạc đều phải thực hiện những cuộc chiến tranh khốc liệt nhất và nhì trong lịch sử nước ta. Chỉ trong khoảng thời gian từ 65-70 năm, nhà Mạc phải chống lại các thế lực đối kháng đến lúc thất bại hoàn toàn.
Nhà Sản ngoài các thế lực đối kháng trong nước, còn phải đánh nhau với ba “đế quốc to” là Pháp, Mỹ và Trung Quốc. Có lẽ vì sự tương đồng mà nhà Sản đã tôn vinh nhà Mạc cách thái quá. Như ông vua Mạc Đăng Doanh, chỉ có việc ngồi trên ngai vàng, trong suốt 10 năm, lịch sử không ghi nhận ông làm được gì cho xã tắc, mọi việc kể cả quỳ lạy sứ Tàu cũng đều do cha ông là Thái Thượng hoàng Mạc Đăng Dung phải hạ mình làm. Ông còn chết luôn trước cả cha mình. Nay, nhà Sản lấy vương hiệu của ông – Mạc Thái Tông đặt tên cho một con đường rất đẹp tại Hà Nội.
Nhà Sản cũng là triều đại duy nhất trong sử Việt tôn vinh nhà Mạc. Đúng là đồng khí tương cầu!
Qua giai đoạn lịch sử kể trên, có thể thấy: đối với quân Trung Quốc xâm lược thì dù ta có ứng xử kiểu gì, mềm hay rắn, thần phục hay kháng cự thì dã tâm xâm lược và đồng hóa dân Việt Nam của chúng vẫn luôn là “vấn đề cốt lõi” chưa bao giờ thay đổi. Quân Trung Quốc xâm lược cũng không phải kẻ thù quá mạnh bất khả chiến bại. Trong lịch sử, nước Việt Nam ta dù nhỏ bé và ở ngay sát chúng và thường phải một mình chiến đấu chống lại chiến tranh xâm lược của Trung Quốc  nhưng ông cha chúng ta đã nhiều lần đánh trả chúng quyết liệt khiến chúng thất bại ê chề. Việt Nam đã giành thắng lợi 18/31 cuộc chiến tranh. Quân Trung Quốc-bên gây chiến dù lớn hơn, hung bạo hơn nhưng lần thua nào của chúng trước quân Việt Nam cũng đều là những thất bại rất nặng nề.
Đôi dòng phi lộ: Tôi vốn tên là Nguyễn Tấn Nhật. Tôi cũng rất khó ưa cái tên Trung Quốc, vậy mà trong suốt nửa quãng đời tôi lại phải mang cái tên đó một cách bất đắc dĩ. Chuyện là cha tôi, trước đây là một cán bộ cấp cao trong ngành công an (sau đó ông tự ra khỏi ngành khi chưa đến tuổi hưu). Khi ông Phạm Văn Đồng ký công hàm bán nước cho Trung cộng năm 1958 – công nhận tuyên bố của chúng về chủ quyền (phi pháp) trên biển bao gồm cả Hoàng Sa, Trường Sa, biển Đông, cha tôi cho rằng các ông Hồ, Đồng, Chinh, Giáp làm tay sai cho Trung cộng mất rồi. Cha tôi bỏ sinh hoạt đảng cộng sản, về sống tại quê nhà. Cũng năm đó mẹ tôi sinh thêm em bé, hàng xóm nhà tôi cũng có mấy em bé mới sinh. Không hiểu họ theo chỉ thị của ai hay nghe hơi hướng tuyên giáo tự nguyện nịnh bợ, tranh nhau đặt tên con là Trung Quốc, như: Nguyễn Trung Quốc, Phạm thị Trung Quốc, Dương Trung Quốc … Lúc đó, đi đâu cũng thấy tua lời Hồ Chí Minh ngợi ca “Mối tình hữu nghị Việt – Hoa (Trung), vừa là đồng chí vừa là anh em”. Cha tôi bực quá nên mới đặt tên em trai tôi là Hạ Trung Quốc (họ Nguyễn). Em tôi – Nguyễn Hạ Trung Quốc hay cáu với mẹ tôi “Nó Dương thì mình Hạ, nếu không mất thăng bằng thì chết à?”. Sau này em tôi đi bộ đội đổi tên thành Nguyễn Tấn Trung – hàm ý chú ấy đi lính đánh quân Trung Quốc xâm lược. (Thời những năm 1960, 1070  ở miền bắc Việt Nam, cộng sản không có khái niệm/năng lực quản lý hành chính một cách bình thường, tất cả chỉ vì mục đích vụ lợi phục vụ chiến tranh nên bất chấp mọi đạo lý, lề lối thông thường,  xã hội tràn lan khai báo gian dối tuổi, đổi tên …)
Còn tôi, sau năm 1975 hết thời đi bộ đội, tuổi đã nhiều, nghề nghiệp không có (trừ nghề bám đít con trâu). Tôi muốn đi học lại, khi làm hồ sơ thì không có học bạ và băng tốt nghiệp phổ thông. Đành lấy hồ sơ em trai vừa đủ thủ tục, lại vừa đủ tuổi để đi thi. May mà hai an hem tôi giống nhau như sinh đôi. Tôi thi đỗ, học đại học và phải mang cái tên Hạ Trung Quốc cho đến giờ - Nguyễn Hạ Trung Quốc.

Kính,
Hà Nội tháng 2 năm 2016

Nguyễn Tấn Nhật